Xuất khẩu gạo của Việt Nam, đặc biệt sang thị trường Trung Quốc, ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý trong những tháng đầu năm 2026. Thông tin này được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố tại buổi họp báo thường kỳ sáng 11/3 về tình hình sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong tháng 2/2026 ước đạt khoảng 4,71 tỷ USD, giảm 28,4% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm ngành này đạt 11,3 tỷ USD, ghi nhận mức tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với giá trị xuất khẩu đạt 6,09 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, sản phẩm chăn nuôi đạt giá trị xuất khẩu 140,7 triệu USD, tăng 84,3%; thủy sản đạt 1,76 tỷ USD, tăng 23,3%; lâm sản đạt 2,82 tỷ USD, tăng 7,4%. Ngoài ra, nhóm đầu vào sản xuất đạt 482,8 triệu USD, tăng 51,7%, trong khi xuất khẩu muối đạt 2,3 triệu USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm trước.
Xét theo khu vực thị trường, châu Á hiện là khu vực tiêu thụ lớn nhất đối với các mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam khi chiếm 45,5% tổng thị phần xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ với tỷ trọng 21% và châu Âu với 15,7%.
Xuất khẩu gạo duy trì sản lượng tăng
Nhiều mặt hàng nông sản chủ lực như cà phê, cao su, chè, gạo và rau quả đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực về sản lượng xuất khẩu. Riêng đối với mặt hàng gạo, trong tháng 2/2026, khối lượng xuất khẩu ước đạt 640 nghìn tấn, tương đương giá trị 289,4 triệu USD.
Tính chung trong hai tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tương ứng 599,3 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước, sản lượng xuất khẩu gạo tăng 5%, tuy nhiên giá trị xuất khẩu lại giảm 11,2%.
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 464,1 USD/tấn, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù giá gạo giảm so với năm trước, nhu cầu từ nhiều thị trường vẫn duy trì ổn định.
Trong cơ cấu thị trường tiêu thụ, Philippines tiếp tục là quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 47,6% tổng lượng xuất khẩu. Trung Quốc và Ghana lần lượt là hai thị trường lớn tiếp theo với tỷ trọng 18,3% và 8,9%.
Đáng chú ý, so với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh, đặc biệt trong tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng tới 5,8 lần. Trong khi đó, xuất khẩu sang Philippines tăng 17,6%, còn thị trường Ghana lại ghi nhận mức giảm 31%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, thị trường Trung Quốc là nơi có mức tăng trưởng giá trị xuất khẩu mạnh nhất với mức tăng 5,8 lần, trong khi Bờ Biển Ngà là thị trường giảm mạnh nhất với mức giảm 90,9%.
Bên cạnh mặt hàng gạo, rau quả cũng là nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng trong những tháng đầu năm. Riêng trong tháng 2/2026, giá trị xuất khẩu rau quả ước đạt 450 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này trong hai tháng đầu năm 2026 lên 1,09 tỷ USD, tăng 59,5% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam hiện nay vẫn là Trung Quốc, với tỷ trọng chiếm 58,3% tổng giá trị xuất khẩu. Hai thị trường tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc, lần lượt chiếm 7,5% và 3,9%.
So với cùng kỳ năm trước, trong tháng 1/2026, giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc tăng 2,2 lần, sang Hoa Kỳ tăng 56,1%, và sang Hàn Quốc tăng 35,8%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất, thị trường có mức tăng trưởng mạnh nhất là Hong Kong (Trung Quốc) với mức tăng 4,6 lần, trong khi Thái Lan là thị trường ghi nhận mức giảm mạnh nhất với 33,9%.

